Tôi ở nhà tận hưởng vài ngày tháng bình yên nhàn nhã, những lúc rảnh rỗi còn dùng bạch thoại văn viết vài bài tản văn.
Kiếp trước tôi luôn bị giam lỏng trong trường học nơi Từ Triết giảng dạy, buổi tối buồn chán, thường đi dạo khắp nơi, nơi thích đến nhất là thư viện của Đại học Kinh Hoa, người khác lật sách thì tôi đứng ở đó xem, mấy chục năm trôi qua cũng tích lũy được không ít kiến thức.
Những thứ trong đầu nhiều lên, khi viết văn cũng trở nên vô cùng trôi chảy.
Ngòi bút có thể nói là dạt dào ý tưởng, mặc dù không thể nói là bảy bước thành thơ, nhưng cũng có thể viết một mạch là xong.
Cha tôi vô cùng hài lòng với sở thích này của tôi, ông nói nhà họ Lục chúng tôi cuối cùng cũng sinh ra được một ngôi sao văn khúc.
Có đứa con gái một là tôi đây, danh tiếng gia đình thư hương của nhà họ Lục chúng tôi cũng không đến nỗi bị đứt đoạn ở thế hệ của ông.
Quên nói mất, tổ tiên nhà họ Lục chúng tôi từng có người đỗ trạng nguyên, ông nội tôi cũng là một tiến sĩ, chỉ là đến đời cha tôi thì phong cách lại thay đổi hoàn toàn. Cha tôi hễ nhìn thấy sách là lại kêu đau chỗ nọ đau chỗ kia, đối với học vấn thì mù tịt, nhưng năng lực tính toán của ông lại là hạng nhất, nhờ thế mà mới gây dựng nên được cơ ngơi đồ sộ nhường này.
Sau khi kiếm đủ tiền rồi, cuộc đời của ông đáng lẽ ra rất viên mãn, nhưng trong thâm tâm ông luôn có một nỗi niềm tiếc nuối.
Cũng không phải tiếc nuối vì không có con trai, cùng lắm thì kén rể là xong.
Điều ông lo lắng là truyền thống văn hóa của gia đình đến đời ông thì bị đứt đoạn, trăm năm sau sẽ bị ông nội chửi mắng.
Bây giờ thì hay rồi, bản thân sinh ra được cô con gái biết viết văn, thật là làm rạng rỡ mặt mũi cho ông!
Cha tôi đối với những bài tản văn của tôi là càng xem càng thích, nhưng chỉ một mình ông thích thôi thì chưa đủ, ông còn đem đi cho mẹ tôi xem, mẹ tôi không thích xem thì ông lại đem cho bọn gia đinh và nha hoàn xem.
Nhưng ham muốn chia sẻ của ông vẫn chưa được thỏa mãn, sau này phát triển đến mức hễ trong nhà có khách đến chơi, ông lại đem mấy bài viết đó của tôi ra cho người ta xem, rồi tỏ vẻ đầy tự hào chờ đợi người ta khen ngợi tôi.
Khách của ông thường là những đối tác trên thương trường, bản lĩnh nịnh nọt của những người này mạnh hơn đám đàn bà và gia đinh trong nhà nhiều. Có thể họ cũng giống cha tôi không hiểu lắm, nhưng khi khen ngợi thì lại trôi chảy vô cùng, cái gì mà tài năng vịnh nhứ, cái gì mà phong cách Lý Đỗ nói ra cứ như đúng rồi.
Dỗ cho cha tôi vui vẻ ra mặt, ông mà vui vẻ, thì chuyện hợp tác cũng tự nhiên nước chảy bèo trôi mà thành.
Trong đó có một thương nhân thậm chí vì muốn vuốt ve nịnh nọt cha tôi, mà còn đem mấy bài viết đó đến tòa soạn báo để xuất bản.
Lúc đầu, chỉ có những thương hộ muốn lấy lòng cha tôi mới khen ngợi tôi.
Còn giới học thuật đối với một người phụ nữ đã ly hôn như tôi, vừa chưa từng đi du học, lại chưa từng học đại học, thì lại chẳng hề đánh giá cao chút nào.
Bọn họ đều nói văn của tôi quá thông tục bạch thoại, thô thiển khó coi, không có ý nghĩa sâu xa.
Từ Triết lại càng như phát điên mà đả kích tôi, nói một kẻ nhà quê như tôi thì tốt nhất đừng nên viết văn nữa, bảo tôi mãi mãi cũng không thể sánh bằng tài năng của Tống Lăng.
Chắc hẳn anh ta đang mang trong mình một sự tự ti nào đó, so tiền gửi ngân hàng thì không bằng tôi, thứ duy nhất có thể lấy ra khoe khoang được cũng chỉ là một chút văn hóa đó mà thôi.
Nhưng tôi lại thấy hơi nực cười, tôi chỉ viết cho vui thôi mà, anh ta làm gì mà phải kích động đến thế?
Tôi lại chẳng phải viết cho anh ta xem, anh ta căng thẳng đến thế làm gì chứ?
Dùng ngôn ngữ của đời sau mà nói thì chính là, tôi mới chỉ tung một đòn đánh thường, mà anh ta đã vội vàng tung hết cả chiêu cuối lẫn tốc biến ra rồi.
Sau này tôi mới hiểu tại sao anh ta lại căng thẳng đến vậy, là bởi vì cảm giác bị đe dọa.
Thơ văn của anh ta và Tống Lăng đúng là ngôn từ tươi đẹp, uyển chuyển đa tình, nhưng đối tượng độc giả chỉ giới hạn trong giới học thuật mà thôi, dân chúng bình thường hoàn toàn không thích xem, cũng xem không hiểu.
Nhưng bài viết của tôi thì lại khác, người trong giới học thuật cho rằng nó quá sức bình dân.
Nhưng vì nó thông tục dễ hiểu, lại vô cùng thú vị, nên dân chúng bình thường đều coi bài viết của tôi như những cuốn truyện kể để đọc.
Cho đến một lần tình cờ, Lâm lão tiên sinh, một đại nho nổi tiếng trong giới học thuật, tình cờ nghe nói đến những bài viết của tôi.
Ông thực sự quá tò mò, không biết những bài viết bị giới học thuật chê bai thậm tệ của tôi rốt cuộc là có hình dáng ra sao, tại sao chúng bị chửi rủa như vậy, nhưng lại hot đến thế?
Không ngờ, sau khi Lâm lão đọc xong bài viết của tôi thì lại yêu thích không buông tay, không tiếc lời khen ngợi tôi, nói rằng bút pháp của tôi dứt khoát mạnh mẽ, gần gũi với nhân dân, đầy ắp sự thú vị, và dành cho tôi một đánh giá cực kỳ cao.
Rồi một chuyện kỳ lạ đã xảy ra, dường như chỉ sau một đêm, dư luận đã đổi chiều hoàn toàn quay sang khen ngợi tôi.
Đây có lẽ chính là sức ảnh hưởng của những vị tai to mặt lớn.
Người có học thức khen người khác cũng chẳng giống như đám bạn trên thương trường của cha tôi, những người trước kia chỉ biết có từ nào thì dùng từ nấy, dẫu sao thì trình độ văn hóa cũng chỉ có hạn, trong đầu ngoài ngần ấy thứ ra thì chẳng còn gì khác.
Nhưng những văn nhân trong giới học thuật thì lại khác, đối với họ, khen ngợi người khác cũng là một môn học vấn.
Họ nói bài viết của tôi vừa mang một hàm ý văn học cực cao, dùng những từ ngữ súc tích để diễn đạt ra những cảm xúc phức tạp, bày tỏ một cách ẩn ý tâm lòng thương xót cho nhân thế, vừa thể hiện một viễn cảnh tươi đẹp hướng về tương lai.
Khi những bài bình luận được đưa ra, đến chính bản thân tôi cũng phải tự nghi ngờ chính mình.
Lúc viết tôi thực sự đã nghĩ như vậy sao?
Sao tôi lại không nhớ gì thế này?
Bất kể rốt cuộc tôi đã nghĩ cái gì, thì dù sao do duyên phận xui rủi, tôi cũng đã trở thành một tài nữ rồi.