Mẹ ruột tôi mất sớm, tôi cũng chẳng còn liên hệ gì với bên ngoại, bây giờ lại đoạn tuyệt với cha, coi như mất hết mọi nguồn kinh tế.
Tiền học, tiền sinh hoạt đều là vấn đề lớn, huống chi tôi còn phải học lên đại học.
Cô Trần là một giáo viên mẫu mực cả đời, chẳng có danh cũng chẳng có lợi.
Dù cô sẵn lòng giúp đỡ tôi, nhưng tôi cũng không nỡ nhận.
Đã không còn cách nào khác để mưu sinh, thì tôi chỉ có thể dùng cách duy nhất — bán tranh.
Lúc người khác đang lên lớp, tôi xin nghỉ ra vỉa hè bày tranh, vừa trông sạp vừa đọc sách.
Liên Diệp Chạm Trời là bức tôi dồn nhiều tâm huyết nhất, nếu không thật sự túng quẫn, tôi tuyệt đối không muốn bán nó.
Nhưng giờ thì không còn cách nào khác.
Tôi chưa bao giờ lý trí và bình tĩnh đến vậy, dù trong lòng không nỡ, không muốn, nhưng chỉ cần nghĩ đến con đường mình phải đi về sau, tôi lại kiên định đến lạnh lùng.
Chính lúc này, tôi gặp được Lâm Ức Ức.
Sáng hôm ấy, trời vừa dứt cơn mưa lất phất, nắng vừa hửng lên là tôi đã bày tranh ra.
Người đi đường dẫm lên vũng nước, chẳng ai để ý đến sạp tôi.
Tôi không biết rao hàng, lại chăm chú đọc sách tiếng Anh, thậm chí không nhận ra một chiếc Santana đã dừng lại trước sạp.
Mãi đến khi Lâm Ức Ức dùng hai ngón tay cầm lấy một bức tranh tôi đặt phía trước — một bức vẽ dở, có hai con cua đá dưới tảng đá, vẫn chưa hoàn thành.
“Xin lỗi, bức này chưa vẽ xong, nếu chị thích, em có thể vẽ lại một bức theo ý chị ngay tại chỗ.”
Tôi vội vàng lên tiếng, muốn giữ chân vị khách hiếm có này.
Lâm Ức Ức không trả lời ngay, mà bắt đầu xem từng bức trên sạp của tôi.
Tôi không kìm được cũng quan sát cô ấy — thật ra là vì cô quá nổi bật.
Nhìn một cái là biết tiểu thư nhà giàu.
Tôi không rõ cô ấy bao nhiêu tuổi, nhưng trông còn trẻ trung rạng rỡ hơn cả tôi, mặc một chiếc váy ren trắng tinh.
Chân mang tất lưới trong suốt, bên ngoài còn thêm tất lửng có viền hoa, giày da bóng loáng có quai, tóc uốn lọn từng tép một cách khéo léo.
Trên cổ đeo một chuỗi ngọc trai lai giữa phong cách Trung và Tây, hạt nào cũng tròn đều sáng bóng.
Thật ra, nếu nói cho đúng, khi còn sống với cha, tôi cũng từng sống kiểu “tiểu thư nhà giàu”.
Nhưng tôi chưa từng biết rằng, sự giàu có lại có thể được phô bày rõ ràng đến thế.
Tôi biết cha có rất nhiều tiền, nhiều hơn số ông thể hiện ra bên ngoài rất nhiều.
Ông đúng là chưa từng để tôi phải thiếu thốn về ăn mặc chi tiêu.
Nhưng ông không cho phép tôi mặc đồ “không đủ giản dị”, không cho tôi đuổi theo những thứ “hào nhoáng vô bổ” như các bạn gái cùng lớp.
Ông nói đó là “gia giáo”.
Nhưng tôi đâu có ngu.
Thực chất ông không muốn bị nói là sống dựa vào đàn bà, và quan trọng hơn nữa—
Nguồn thu nhập của ông, có những phần không thể công khai.
Lâm Ức Ức liếc nhìn tôi một cái.
Cô ấy không giống tôi ngày xưa. Cô không cần tuân thủ những quy tắc nào cả, chẳng quan tâm người khác nhìn mình như “tiểu thư tư bản” ra sao.
Cô nhẹ nhàng đặt xuống một bức tranh đang xem dở, hỏi: “Tranh này bán sao?”
“Mấy bức kia là một tệ một thước.”
Tranh thủy mặc không bán theo bức, mà bán theo thước.
Dù tôi đang bán rẻ, nhưng vẫn không thể buông bỏ lòng tự trọng của một người vẽ tranh, thà nói một tệ một thước, chứ không chịu nói ba tệ một bức.
Cô ấy lại chỉ vào Liên Diệp Chạm Trời.
“Còn bức này?”
“Bức này thì khác.”
Tôi hơi do dự, cuối cùng vẫn kiên định nói ra mức giá đó.
“Bức này ba mươi tệ một thước.”
Những bức một tệ một thước, một ngày tôi có thể vẽ được năm bức.
Nhưng Liên Diệp Chạm Trời, tôi đã vẽ suốt ba tháng trời.
Nếu bán quá rẻ, tôi sợ nó rơi vào tay người không biết trân trọng.
Lâm Ức Ức bật cười. Không hiểu sao, tôi lại nghe ra trong tiếng cười ấy không có ý chê bai, mà như thể cô ấy thật sự vui vẻ.
“Này, cô có biết tranh bán ở tầng một của Nhất Phẩm Đường giá bao nhiêu một thước không?”
Nhất Phẩm Đường, tất nhiên là tôi biết. Những họa sĩ quốc họa chưa nổi tiếng nhưng có chút tay nghề đều treo tranh bán ở đó.
Cha tôi có quan hệ với chủ Nhất Phẩm Đường, tôi biết họ sẽ không nhận tranh của tôi, nên dứt khoát tự ra vỉa hè bán.
Thông thường, tranh bán ở sạp bên đường, từ chất lượng đến giá cả đều kém hơn tranh đã được “kiểm định” của Nhất Phẩm Đường.
Những họa sĩ chưa nổi danh nhưng kỹ thuật vượt trội, tranh của họ bán ở tầng một Nhất Phẩm Đường cũng chỉ cao nhất là hai mươi lăm tệ một thước...
Vậy mà tôi — một người bày sạp ven đường — lại dám hét ba mươi tệ một thước.
Tôi không nói gì. Lâm Ức Ức giơ tay ướm thử lên Liên Diệp Chạm Trời, một gang, hai gang, ba gang… rồi lại bật cười.
“Tính ra thế này, bức này phải đến một trăm tệ mới mua được.”
Ở thời điểm tôi học cấp ba, một trăm tệ thật sự là một số tiền không nhỏ. Thực ra trong lòng tôi cũng hơi dao động.
Từ khi nhập học đến giờ, tôi gần như chưa bán được bức nào. Tôi bắt đầu nghĩ, liệu lòng tự tôn của mình có thể đổi ra cơm ăn hay không...
Tôi chợt nhớ đến bộ mặt kiêu căng, không chịu cúi đầu vì năm đấu gạo của Thẩm Thanh Sơn kiếp trước — rồi lại bắt tôi khổ sở chạy vạy vì anh ta. Trong lòng tôi chợt dâng lên cảm giác buồn nôn, như thể vừa nuốt phải một miếng kem bơ dày đặc ngấy ngán.
Hay là bớt giá một chút?
Tôi cắn răng, chuẩn bị hạ giá, đem bức tranh mình yêu quý nhất bán rẻ bèo năm đồng mười đồng.
Thì Lâm Ức Ức bỗng mở miệng: “Tôi trả cô một trăm hai mươi tệ.”
?
Tôi kinh ngạc.
Cô ấy nhìn tôi, nói: “Nếu sau này cô vẫn còn vẽ được tranh đạt trình độ này, chỉ được bán cho tôi, không được bán cho người khác.”
“Nếu có ai ra giá cao hơn tôi, cô cũng có thể nói với tôi.”
“Tôi sẽ đốt thiên đăng của hắn.”
Đốt thiên đăng — nghĩa là dù người kia trả bao nhiêu, cô cũng sẽ trả cao hơn.
“Tôi mãi mãi trả cao hơn người khác hai mươi tệ, biết chưa?”
Thoạt nhìn thì có vẻ kiểu người ngốc nghếch lắm tiền, không sợ bị tôi nâng giá.